ĐIỂM MÙ CỦA NHẬN THỨC

Theo ngành tâm lý học, hiện tượng điểm mù tri giác là việc niềm tin xoá bỏ những gì bạn nhận thức. Nếu bạn liên tục thuyết phục bản thân rằng bạn không thể nào tìm thấy một điều gì đó, thì não có khả năng sẽ xóa hẳn hình ảnh của điều này khỏi tầm mắt của bạn.

Điểm mù của nhận thức

Và sự tưởng tượng của chúng ta gắn với bối cảnh xung quanh sẽ điền nốt vào điểm mù. Trong tâm lý, một số biểu hiện thường gặp của điểm mù:

1. Overconfidence (Sự quá tự tin):Điều này thể hiện qua sự tin tưởng rằng chúng ta thông minh hơn hoặc có khả năng hơn thực tế mà chúng ta có.

Ví dụ: có đến 82% người nói rằng họ thuộc 30% những người lái xe an toàn nhất, hoặc họ chắc chắn đến 90% rằng họ biết rõ điều đó mặc dù họ chỉ thực tế biết khoảng dưới 70%.

2. Selective Memory (Trí nhớ chọn lọc):Con người thường né tránh khi nhớ về những sai lầm hoặc kinh nghiệm thất bại trong quá khứ, mặc dù chính mình đã gây nên.

3. Self- Handicapping (Tự cản trở mình – đối lập với Overconfidence): điều này xảy ra khi chúng ta cố gắng giải thích tương lai ảm đạm với những lý do có thể đúng hoặc không đúng.

Nếu chúng ta cảm thấy không tốt trước khi bắt đầu một buổi trình bày thì chắn chắn buổi trình bày đó sẽ không tốt.

4. Loss Aversion (Ám ảnh thua lỗ):Nhiều nhà đầu tư cảm thấy ám ảnh khi một khoản đầu tư thua lỗ mặc dù phần còn lại của danh mục là an toàn. Loss aversion khiến nhà đầu tư không dám thực hiện đầu tư.

5. Anchoring (Mỏ neo):Khi chúng ta hỏi một cư dân của TP.HCM về dân số của Hà Nội, họ có xu hướng dùng con số dân cư của TP.HCM họ biết và điều chỉnh xuống để áp cho dân số của Hà Nội.

Nhưng vậy là không khoa học. Khi dự báo một điều không rõ, chúng ta có xu hướng dính chặt với những gì chúng ta biết.

Điểm mù của nhận thức

6. Sunk Costs (Chi phí chìm):Chúng ta bỏ 1 triệu đồng để mua một vé xem kịch cao cấp và cảm thấy vở kịch này thật kinh khủng. Nhưng vì chính mình bỏ tiền ra mua vé, nên chúng ta có xu hướng xem đến hết vở kịch.

Song nếu vé xem kịch được cho bởi một người khác thì chúng ta dễ dàng quyết định ra về giữa chừng.

7. Confirmation Bias (Xu hướng khẳng định – Bảo thủ): Khi sở hữu một chiếc xe Honda, ta có xu hướng tin tưởng những thông tin ủng hộ nó hơn là những thông tin đối lập.

8. Mental Accounting ( Kế toán tâm thức): Khi chơi bài roulette với 1 triệu đồng và bất ngờ thắng 10 triệu, chúng ta có xu hướng sẽ chơi tiếp với 10 triệu này mà không do dự bằng lúc đầu. Việc không phải cực nhọc kiếm 10 triệu khiến ta dễ dàng đồng ý với việc chấp nhận rủi ro hơn.

9. Herding (Tính bầy đàn) Khi mọi người đưa ra quyết định, họ thường dựa vào môi trường và ý kiến của những người xung quanh. Mà đương nhiên, số đông chưa hẳn đã là số đúng. Ví dụ điển hình nhất có thể kể đến là câu chuyện Galileo Galilei cùng giáo hội.

10. Recency Bias ( Thiên kiến quá khứ):là suy nghĩ cho rằng những xu hướng hoặc mô hình trong quá khứ sẽ lặp lại hoặc tiếp tục trong tương lai do vậy, những hành động trong tương lai sẽ dựa trên những nhận thức của quá khứ.

Biên tập từ Alpha Art

ActionCOACH VIỆT NAM

89 Hồ Bá Kiện, P15, Q10, Tp.HCM
👉 Hotline: (+84) 2871077979
👉 Website: http://actioncoach.asia

  • Add to Sketchpad
    • No word lists for Vietnamese -> Vietnamese…
    • Create a new word list…
  • Copy
//